you're reading...
Blog 360

Gian nan vẽ hình Tổ quốc

2 tháng, 17 ngày đi bộ

Năm 1991, cùng với việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, tỉnh Lào Cai cũng chính thức được thành lập. Ngay buổi đầu non trẻ ấy một công tác vô cùng quan trọng được đặt ra với một tỉnh biên giới: Khảo sát lại toàn bộ đường biên, lập báo cáo cụ thể chi tiết về thực trạng đất đai, dân cư, để Ban Biên giới Chính phủ và Bộ Ngoại giao lấy căn cứ đàm phán ký kết hiệp định biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Nhóm khảo sát do đồng chí Dương Đức Bảy – Trưởng phòng Quản lí biên giới, BTL BĐBP dẫn đầu được thành lập.

Mặc dù tuyến đường biên Lào Cai quản lý chỉ có hơn 200km nhưng chỉ có 59 km đường bằng còn lại là ghềnh thác, sông suối và đèo dốc. Khí hậu lại vô cùng khắc nghiệt. Khảo sát phải đi thông tuyến, tức là cứ căn cứ vào bản đồ mà đi bất kể nơi đó có đi được hay không.

Đường biên giới do Lào Cai quản lí được bắt đầu từ chân đèo Khang Chu Văn (điểm cực Tây tiếp giáp tỉnh Lai Châu) đến điểm Đuôi Chó (điểm cực Đông tiếp giáp tỉnh Hà Giang), phải khảo sát khoảng 460km. Trung tá Nguyễn Khánh Tùng hiện là Đồn trưởng Đồn BP Hà Khẩu, ngày đó là một sĩ quan trẻ vừa hoàn thành công tác ở đồn A Lù về cho biết: “Đội công tác chỉ có 5 người. Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của cuộc hành trình 2 tháng 17 ngày liên tục là ở chân đèo Khang Chu Văn”. Anh kể: Địa hình chủ yếu ở đó là sông suối. Nước lạnh đến mức thò chân xuống phải rụt lại ngay. Đêm hôm trước cả đội mệt quá phải ngủ trong một túp lều canh nương của người dân. Sáng sớm tỉnh giấc cả đội thất kinh vì xung quanh toàn vết chân gấu to đùng. Vừa rời khỏi bản Hồng Ngài chưa bao xa, đầu gối anh Bảy bị nước lạnh làm sưng to. Cả đội phải quay lại xin dân mật gấu. Anh Bảy vẫn còn tập tễnh, cả đội lại lên đường. Điểm khảo sát hôm đó vạch trên bản đồ là một đường thẳng khoảng 1cm, nhưng đối diện trước mắt anh em là một khu rừng nguyên sinh chưa có dấu chân người.

Anh bạn người Dao làm nhiệm vụ dẫn đường kiên quyết không chịu đi, vì theo anh, đây là rừng thiêng người thường vào con ma sẽ bắt. Anh Bảy phải động viên: “Tấc đất nào của Tổ quốc cũng là đất thiêng” và trực tiếp cầm dao xông lên trước. Mấy tiếng đồng hồ chỉ có cây rừng mịt mùng không thấy ảnh mặt trời, chàng trai người Dao nản quá phải kêu lên: “Cán bộ ơi! Làm người không muốn mà cứ bắt làm con thú chui rúc suốt thế này”. Anh Bảy cười vang. Xẩm chiều qua được khu rừng thì cả đội lại rơi ngay vào một hõm núi không có đường ra. Không thể để cả đội ở lại đó, anh Bảy quyết định vượt núi, bơi dọc theo sông để tìm chỗ cắm trại. Sau mấy tiếng trầm mình trong nước giá, anh em định dừng chân trên một cồn cát giữa sông thì anh bạn người Dao kiên quyết đòi bơi vào bờ lên chỗ cao cắm trại. Mặc dù ai nấy đều đã đói, mệt, lạnh cóng nhưng cả đội phải chiều theo. Nhưng thật may, vừa cắm trại xong thì mưa rừng sầm sập, sáng ra cồn cát đêm qua chỉ còn lại một vùng nước trắng mênh mông. Cả đội phải chia nhau từng mẩu lương khô đến chiều tối mới tìm được vào bản để xin gạo.

Cứ như vậy, họ vừa đi vừa đo đạc, đánh dấu, ngủ rừng, uống nước suối, thức ăn chính là lương khô, mèn mén và củ rừng. Khó khăn chỉ làm bước chân họ ngày một nhanh hơn. Đến nỗi ở Bản Lầu, bốn người Mông được giao dẫn đường còn theo không kịp. Chỉ tội cho anh Bảy và anh Bùi Quang Triệu đã ngoài 40 tuổi lại mang bệnh thấp khớp nên không thể đi hết cuộc hành trình. Đội chỉ còn lại 3 người. Anh Tùng kể: Khảo sát xong ở Nậm Mít, A Mú Sung, lương thực cạn, anh em quyết định đóng bè xuôi sông Hồng về đồn Trịnh Tường để xin tiếp tế. Lúc qua thác Tây, dòng sông tự nhiên thắt lại, hai bên bờ vách đá dựng đứng cao hàng chục mét, hung hãn chĩa ra những mũi đá nhọn hoắt (nơi đây hơn 100 năm trước, nghĩa quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc đã phục kích đánh tan một đạo quân Pháp và giết chết tên quan chỉ huy). Chiếc bè bé nhỏ bị dòng nước giận dữ xé làm hai mảnh. Anh em ở Trịnh Tường phải đi dọc sông hơn 10km mới tìm thấy nhóm. Thật may không ai bị sao. Nhọc nhằn là thế nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ tất cả sung sướng thốt lên: “Non sông Việt Nam thật là hùng vĩ”.

Xác định vị trí cắm mốc

Khi đàm phán về số mốc phải cắm ở Lào Cai, phía Việt Nam chủ trương có 129 vị trí mốc, phía bạn muốn đơn giản hóa chỉ cần 59 vị trí. Sau nhiều lần đàm phán cả hai bên nhất trí 88 điểm mốc. Do địa bàn Lào Cai nhiều vị trí biên giới được xác định là biên giới tự nhiên dựa vào địa hình sông núi. Do vậy số cột mốc thực phải cắm là 124 cột. Những vị trí trên sông suối thì hai bên sẽ cắm cột mốc hai bên bờ lấy trung điểm đường nối hai mốc là điểm phân chia lãnh thổ. Những chỗ ngã ba sông sẽ cắm 3 cột mốc. Cắm mốc kiểu này sẽ tránh được tình trạng tranh chấp xảy ra khi sông suối đổi dòng chảy do tự nhiên hoặc nhân tạo. Việc tranh chấp như vậy đã từng xảy ra giữa Ca-na-đa và Mỹ.

Từ lí thuyết đến thực địa phức tạp vô cùng. Có nhiều khu vực dân cư thưa thớt, việc xác định vị trí cột mốc vô cùng gian nan. Đội PGCM cả hai bên phải cắm trại tại chỗ và đàm phán hàng tháng ròng rã. Ở Nậm Chảy, có chỗ đội PGCM phải đàm phán và xác định vị trí gần 4 tháng. Hơn 3 tháng đó, anh em phải trồng rau, nuôi gà để chủ động thực phẩm. Đặc biệt ở điểm cao 3000 Y Tý. Nước ở đây rất hiếm, mỗi con ngựa chỉ thồ được 30 lít nước 1 ngày. Vì vậy, nước gạo được tái sử dụng để rửa rau sau đó nước thải mới dùng để tưới. Sáng ra nhiều hôm anh em chỉ có một bát nước vừa dùng rửa mặt vừa dùng đánh răng. Kham khổ thành quen nên có lần Trung tá Lê Đình Tiến về nhà thăm vợ, anh múc một bát nước con để rửa mặt buổ
i sáng, vợ nhìn thấy thương quá vừa khóc vừa múc một chậu nước to cho anh rửa thỏa thích.

Điều kiện làm việc cũng vô cùng vất vả. Tìm được vị trí đặt máy định vị toàn cầu GPS hiệu quả có khi phải đi bộ hàng tiếng. Để máy có thể bắt sóng tốt thì trong phạm vi đường kính 60cm, phải chặt toàn bộ cây cao hơn 30m. Mỗi lần đo phải mất tối thiểu 10 tiếng và phải đủ tín hiệu 5 vệ tinh mới đạt yêu cầu. Nhưng thời tiết Lào Cai nhiều mây mù, khắc nghiệt phải đo nhiều ngày mới được 1 vị trí. Có khi phải nghỉ hàng tuần vì thời tiết quá xấu. Những ngày như thế cả đội lại tổ chức vào rừng săn chuột và bắt cua đá để cải thiện thực phẩm. Nghe kể lại kỷ niệm một thời, Thượng tá Hà Đức Kiến chép chép miệng vui vẻ: “Các cậu không biết chứ, thịt chuột rừng trắng mềm và thơm ngon còn hơn thịt gà đấy”.

Đưa cột mốc vào vị trí

Một cột mốc tiểu bằng đá hoa cương nặng 270kg, cột mốc trung là 470kg, cột mốc đại là 970kg. Xác định được vị trí cắm mốc đã vất vả, đưa được cột mốc vào vị trí còn vất vả hơn. Phải mở đường vượt núi, băng sông bằng những phương tiện thô sơ để đưa cột mốc vào. Một lần ở Nậm Chảy, đang đưa cột mốc vào vị trí thì anh Nguyễn Xuân Trường bị rắn độc cắn. Anh em sơ cứu kịp thời nhưng bảy người thay nhau võng anh đi đúng một ngày mới ra được đường ô tô, suýt chết. Ở Mường Khương tại cột mốc 163, xã Pha Long, chỉ khoảng 300m2 thôi anh em đã dò được hơn 400 quả mìn. Mặc dù công tác rà phá bom, mìn luôn được đặt lên hàng đầu, làm hết sức cẩn thận nhưng nhiều lần, anh em vẫn không tránh khỏi bị thương vong. Ở cột mốc 142 – 145, hai đồng chí là Đồn phó Đồn Mường Khương và một đồng chí công binh bị trúng mìn, tuy không ai hi sinh nhưng cả hai đều bị thương mất một tay và một mắt.

“Đưa được cột mốc lên núi cao khó khăn và nguy hiểm không khác gì đưa pháo vào Điện Biên Phủ”. Anh Kiến vẫn còn nhớ những ngày ấy. Dốc Si San ở Y Tý, mũi người sau chạm gót giày người trước, chỉ cần leo người không lên đó đã mất 4 tiếng. Lên đến đỉnh, lăn hòn đá to bằng cái mũ cối xuống chân dốc nó nát tan như ngô. Những cột mốc nặng hàng tạ lại vuông thành sắc cạnh rất khó buộc dây. Với cái tời hiện đại anh em một ngày chỉ tời được 300 – 400m. Mà dốc thì toàn cao trên 1.000 đến 2.000m. Có khi dời được đến nơi phải thay đến hai cái tời vì hỏng giữa chừng. Có một lần, ở ngay dốc Sin San, đang đưa cột mốc trung lên thì tời bị đứt một dây, cả khối đá trượt ra, xoay tít, rít ken két trên không. Hú vía, nhưng may mà anh em đã bình tĩnh, cố gắng giữ lại được, nếu không thì…”. Anh Kiến kể đến đây rồi ngừng lời, hướng mắt nhìn về phía điểm cao 3000 Y Tý.

Hôm nay, đứng bên ngã ba sông Hồng và suối Lũng Pô hợp giao để chảy vào đất Việt, tôi xúc động sờ tay lên cột mốc 92C mà ngày 6-12-2004 đã được cắm xuống nơi đây. Tôi lắng nghe tiếng nước chảy thầm thì hòa với tiếng ngâm rung rung của anh Lê Đình Tiến: “Khi ta ở chính là nơi đất ở! Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”.

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s