you're reading...
Blog 360

QUÁ TRÌNH LÀM CHỦ VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Quần đảo Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn có đầy đủ căn cứ khoa học một cách vững chắc cả về lịch sử và pháp lý phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.
Theo luật pháp và tập quán quốc tế khi xem xét chủ quyền quốc gia đối với một hải đảo hay quần đảo người ta dựa vào các cơ sở về mặt địa lý, lịch sử và pháp lý. Trong 3 yếu tố đó, yếu tố địa lý là để tham khảo; cơ sở về mặt lịch sử chỉ được tính đến khi đó là hành động chiếm hữu và khai thác của Nhà nước đối với đất vô chủ, còn yếu tố về mặt pháp lý mới là cơ sở chủ yếu để xác định chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia đối với các đảo.

Nhà nước Việt Nam từ lâu đã chiếm hữu thật sự quần đảo Trường Sa khi quần đảo chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và liên tục thực hiện chủ quyền thực sự của mình đối với quần đảo này.

1. Thời kỳ trước năm 1884

Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu trước tiên và thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

Trong các tài liệu và bản đồ cổ của Việt Nam và nước ngoài từ nhiều thế kỷ trước đã ghi rõ quần đảo Trường Sa là lãnh thổ và nằm trong hệ thống địa lý hành chính của Việt Nam.

Trong bản đồ xứ Đàng Trong do Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774 và “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ vào khoảng năm 1838 thì “Bãi Cát Vàng” Hoàng Sa, vạn lý Trường Sa đều được thể hiện là lãnh thổ Việt Nam.

Lê Quý Đôn, trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục” viết năm 1776 đã ghi: “Phủ Quảng Ngãi , ở ngoài cửa biển xã An Vinh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, phía ngoài đó có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến”. Địa điểm Lê Quý Đôn nói tới là quần đảo Trường Sa ngày nay.

Trong “Bản đồ biển Đông” của anh em Van Lang Ren người Hà Lan in năm 1595 và trong bản đồ Méccato in năm 1693 đã vẽ hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thành một dải liền nhau hình lá cờ đuôi nheo nằm sát bờ biển miền Trung Việt Nam.

Qua các tài liệu và bản đồ lược kê trên đều khẳng định quần đảo Trường Sa từ lâu đã là một bộ phận lãnh thổ cụ thể, có tên tuổi, có người quản lý, làm chủ, thuộc Nhà nước Việt Nam.

Với tư cách người làm chủ, Nhà nước Việt Nam trong nhiều thế kỷ đã liên tiếp điều tra, khảo sát, khai thác, lập bản đồ quần đảo Trường Sa.

Triều Tây Sơn tuy phải đối phó liên miên với quân xâm lược vẫn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa để khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1786, Nguyễn Huệ sai cai Hội Đức Hầu dẫn đội Hoàng Sa gồm 4 chiếc thuyền câu vượt biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng, đồi mồi, hải ba cùng cá gáy mang về kinh đô dâng nộp. Kết quả khảo sát, điều tra quần đảo Trường Sa được ghi chép tỷ mỷ trong các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” viết năm 1821, “Việt sử cương giám khảo lược” năm 1876, “Hoàng Việt dư địa chí” năm 1883, “Đại Nam thực lục tiền biên” viết năm 1884 ghi chép về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ông cha ta cách đây hơn 2 thế kỷ trùng hợp với các số liệu trong các tài liệu khảo sát hàng hải hiện đại ngày nay.

Sử sách các triều đại nhà Nguyễn còn ghi chép tỷ mỷ các đội Hoàng Sa hàng năm được cử ra hai quần đảo để khảo sát, vẽ bản đồ và thực hiện chủ quyền của mình. Năm 1815, vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh chỉ huy đội Hoàng Sa; năm 1816 cho thủy quân và đội Hoàng Sa ra khảo sát và đo đạc đường biển.

Vào tháng cuối mùa đông mỗi năm, nhà Nguyễn đưa từ 5 đến 10 hoặc 18 đến 20 chiếc thuyền đến các đảo xa lấy hoá vật và thuỷ hải sản quý hiếm.

Nhà nước phong kiến Việt Nam luôn chăm lo bảo đảrn an toàn cho tàu thuyền các nước qua lại và củng cố chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa.

Trách nhiệm của một Nhà nước về chủ quyền của mình và về nghĩa vụ đối với hàng hải quốc tế trong khu vực, Nhà nước phong kiến Việt Nam đều đặn cho quân tiến hành việc đo đạc, khảo sát tỷ mỷ toàn diện – hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việc thực hiện chủ quyền và nghĩa vụ của Nhà nước Việt Nam còn thể hiện ở sự giúp đỡ, cứu nạn tàu bè qua lại và thường xuyên tiến hành tuần tiễu bảo vệ hai quần đảo. Tháng 10 năm 1714, ba tàu buồm Hà Lan bị đắm ở Hoàng Sa, thủy thủ các tàu này đã được ngư dân Việt Nam cứu và dẫn vào đất liền trình diện chúa Nguyễn. Họ đã được giúp đỡ ăn, ở chu đáo cho đến ngày về nước. Những tài liệu lịch sử nghĩa cử, hoạt động nói trên và các văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã ghi chép đầy đủ các mặt địa lý hành chính, kinh tế của quần đảo và việc thực hiện chủ quyền với danh nghĩa Nhà nước đối với quần đảo đó đã có giá trị pháp lý vững chắc, không ai có thể thay đổi được. Việc thành lập đội Hoàng Sa, hàng năm có mặt đều đặn ở hai quần đảo để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao chứng tỏ rằng Nhà nước Việt Nam thực sự thực hiện quyền làm chủ, củng cố và giữ vừng chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa.

Trong lịch sử trước đây, việc chiếm hữu và khai thác quần đảo Trường Sa của Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ gặp sự chống đối của bất cứ quốc gia nào. Ngay cả với nước láng giềng từ thế kỷ XIX trở về trước vẫn thừa nhận và tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

2. Thời kỳ từ năm 1884 đến tháng 1 năm 1950

Sau khi ký Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884 giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn về việc nhà Nguyễn đồng ý cho Pháp thay mặt Nhà nước Việt Nam trong các hoạt động đối ngoại, ký các văn bản ngoại giao và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Từ đó, trong khuôn khổ cam kết chung, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Năm 1887, Pháp và triều đình Mãn Thanh ký công ước về hoạch định biên giới cả trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Năm 1909, nhà cầm quyền Pháp cho các pháo hạm tuần tiễu trên vùng biển hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Từ năm 1920, các tàu của Sở hải quân Đông Dương cũng được tăng cường để làm nhiệm vụ tuần tiễu chống bọn buôn lậu ở vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa.

Năm 1933, để tiếp tục củng cố chủ quyền, chính phủ Pháp đã phái lực lượng đến dựng bia chủ quyền trên 7 hòn đảo lớn của quần đảo Trường Sa. Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam Kỳ Grơthayme đã ký Nghị định số 4762/S-P đặt quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Ngày 15 tháng 6 năm 1938, toàn quyền Đông Dương Brêviê đã ký Nghị định số 156/S-P xây dựng một đèn biển, trạm khí tượng thủy văn, đài vô tuyến điện ở đảo Ba Bình trong quần đảo Trường Sa.

Suốt thời gian đại diện cho Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, chính phủ Pháp luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, đồng thời phản kháng những hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo đó.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi trở lại chiếm đóng Việt Nam, nhà cầm quyền Pháp đã phái chiến hạm ra quần đảo Hoàng Sa, xây dựng lại trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa, từ đó luôn cử các tàu chiến liên tục làm nhiệm vụ kiểm soát và thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Thời ký từ tháng 10 năm 1950 đến tháng 4 năm 1975

Ngày 14 tháng 10 năm 1950, chính phủ Pháp chính thức bàn giao việc quản lý và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính phủ Bảo Đại. Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã ra Hoàng Sa chủ trì việc bàn giao. Ngày 9 tháng 7 năm 1951, tại Hội nghị Xan Phranxixcô, sau khi Nhật tuyên bố từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép từ trước chiến tranh thế giới thứ hai, Trần Văn Hữu, Thủ tướng chính phủ của chính quyền Bảo Đại đã tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lời khẳng định này được đưa ra trước Hội nghị có đại diện của 51 nước tham dự nhưng không có đại biểu nào lên tiếng phản đối.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn trinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Sài Gòn vẫn còn duy trì các lực lượng đồn trú bảo vệ, khảo sát quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 20 tháng 10 năm 1956, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 143/NV về việc đổi tên các tỉnh miền Nam, trong đó có đảo Trường Sa được đưa về tỉnh Phước Tuy.

Năm 1957, các lực lượng thủy quân lục chiến của quân đội Sài Gòn đã được đưa ra quần đảo Trường Sa làm nhiệm vụ bảo vệ các đảo thay các đơn vị đồn trú trước đây.

Năm 1963, chính quyền Sài Gòn đã dựng bia chủ quyền trên các đảo Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây… Trong các năm từ 1961 đến 1973 liên tục phái các đội tàu làm nhiệm vụ tuần tiễu, kiểm soát và tiến hành khảo sát ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 420-BNV/HCDP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải thuộc quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Như vậy, từ sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương cho đến tháng 4 năm 1975 chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiến hành những hoạt động thực hiện chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa một cách hoà bình, thực sự và liên tục.

4. Thời kỳ từ tháng 4 năm 1975 đến nay

Tháng 4 năm 1975, trong hào khí của cuộc Tổng tiến công nổi dậy của quân và dân ta giải phóng miền Nam, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn quần đảo Trường Sa, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi trọn vẹn.

Được giao nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa là lực lượng Đặc công Hải quân phối hợp với lực lượng Đặc công Quân khu 5. Các tàu 673, 674, 675 của Đoàn 125 làm nhiệm vụ chở bộ đội giải phóng đảo Song Tử Tây ngày 14 tháng 4, đảo Sơn Ca ngày 25 tháng 4, đảo Nam Yết ngày 27 tháng 4, đảo Sinh Tồn ngày 28 tháng 4, đảo Trường Sa ngày 29 tháng 4 năm 1975 hoàn thành thắng lợi một nhiệm vụ có ý ngh
ĩa đặc biệt quan trọng về mặt chiến lược do Quân ủy Trung ương giao cho Hải quân. Từ đó đến nay chúng ta tiếp tục tổ chức bảo vệ và thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa.

Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Tại Điều 5 trong tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ ta về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tại Điều 4 trong tuyên bố ngày 12 tháng 11 năm 1982 của Chính phủ ta về đường cơ sở để tính bề rộng của lãnh hải đều có những quy định cụ thể về các vấn đề liên quan đến chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

Ngày 9 tháng 12 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28 tháng 12 năm 1982, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá VII đã ra Nghị quyết tách huyện Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai và sáp nhập vào tỉnh Phủ Khánh. Năm 1990, khi Phú Khánh tách thành hai tỉnh Khánh Hoà và Phú Yên thì huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà. Như vậy, cùng với huyện đảo Vân Đồn, Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh; Cát Hải, Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng; Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị; Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng; Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi; Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận; Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Kiên Hải, Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang; Trường Sa là một trong 12 huyện đảo của đất nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng về quốc phòng – an ninh, đang được cả nước quan tâm đầu tư để từng bước trở thành trung tâm kinh tế, giao thông trong công cuộc chinh phục biển cả.

Ngày 23 tháng 6 năm 1994, tại kỳ họp thứ 5 (Quốc hội khóa IX) Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp quốc về Luật biển năm 1982 đã nhấn mạnh: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trưởng Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa”. Quốc hội cũng nêu rõ quan điểm: “Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào các nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước Liên Hiệp quốc về Luật biển năm 1982”.

Ngày 18 tháng 3 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 171/TTG về các công việc cần triển khai để phát triển kinh tế biển và ngày 22 tháng 9 năm 1997, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 20/CT-TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó có quần đảo Trường Sa.

Ngày 14 tháng 10 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 34/2004/CT-TTg “Về tăng cường phối hợp công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam”. Trong Chỉ thị, Thủ tướng giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Thủy sản, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, ngành khác có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương phồl hợp chặt chẽ quản lý, bảo vệ chủ quyền và an ninh trật tự trên các vùng biển, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của nước ta.

Quần đảo Trường Sa và các vùng biển, thềm lục địa nhạy cảm dễ bị các quốc gia khác yêu sách tranh chấp, cần được ưu tiên hàng đầu củng cố vị trí vững chắc, nâng cao sức mạnh phòng thủ, đồng thời đầu tư thích đáng xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở dịch vụ hậu cần nhằm thu hút các hoạt động kinh tế góp phần củng cố thế và lực của Việt Nam.

Quyền chủ quyền và quyền tài phán của ta đối với vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa không chỉ được thể hiện trong giai đoạn hiện nay mà còn ở trong các giai đoạn trước.

Năm 1985, công ty viễn thông của năm nước là Ôxtrâylia, Inđônêxia, Philíppin, Xingapo, Nhật Bản và hai khu vực là Đài Loan, Hồng Lông muốn đặt cáp ngầm đi qua vùng đặc quyền kinh tế của quần đảo Trường Sa đã phải làm đơn xin phép và được Chính phủ ta cho phép mới tiến hành.

Việc nước ngoài chiếm trái phép một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa và thông qua Luật biển, vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, quy định Trường Sa là lãnh thổ của họ đã vi phạm chủ quyền của Nhà nước ta đối với quần đảo này, trái với Luật biển quốc tế năm 1982, luật pháp và tập quán quốc tế, ảnh hưởng đến truyền thống hữu nghị lâu đời giữa hai dân tộc. Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, quân và dân ta kiên quyết, kiên trì bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời tìm mọi biện pháp nhằm giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoà bình.

Như vậy, việc xác lập chủ quyền và làm chủ quần đảo Trường Sa được thể hiện trên những điểm sau:

Một là, Nhà nước phong kiến Việt Nam là người đầu tiên trong lịch sử đã làm chủ và thực hiện quyền kiểm soát, quản lý và khai thác quần đảo Trường Sa.

Trước đó quần đảo này chưa có ai chiếm giữ, chưa hề nằm trong địa lý hành chính và ch
u sự quản lý của bất cứ quốc gia nào. Không một quốc gia đương thời nào phản đối sự chiếm hữu của Việt Nam đối với quần đảo này và cũng chưa bao giờ xảy ra sự tranh chấp nào về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo kể từ khi được hình thành.

Hai là, quyền làm chủ của các chính quyền kế tiếp nhau ở Việt Nam đối với quần đảo là thực sự rõ ràng, cụ thể, có văn bản pháp lý và được tuyên bố công khai cho các nước biết, có tổ chức lực lượng khai phá, bảo vệ, không ngừng củng cố và giữ vững quyền làm chủ của Việt Nam, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Ngay từ đầu và qua các thời kỳ, quần đảo đã được tổ chức thành những đơn vị hành chính, có bộ máy quản lý phù hợp với quy mô, phạm vi của từng đảo và yêu cầu của công cuộc bảo vệ.

Ba là, việc thực hiện chủ quyền trên quần đảo được tiến hành tuần tự, có các bước đi chặt chẽ, phù hợp, diễn ra như một quy trình tự nhiên từ phát hiện, khảo sát, thăm dò, đo đạc, vẽ bản đồ, dựng bia, trồng cây, xây đèn biển, đặt đài khí tượng thủy văn, hệ thống liên lạc, xây dựng nhà cửa, hầm hào, đê bao quanh đến tổ chức cung ứng, tiếp tế lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược bảo đảm cho các hoạt động trên đảo diễn ra bình thường.

Bốn là, Nhà nước Việt Nam liên tục kế tiếp nhau bảo vệ các quyền của mình trước mọi âm mưu và hành động xâm chiếm của kẻ thù đối với quần đảo.

Năm là, chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo đã được nhiều nhà hàng hải, nhà địa lý, nhà nghiên cứu phương Tây xác nhận từ nhiều thế kỷ trước, các triều đình phong kiến phương Bắc cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp công nhận quyền làm chủ, quyền khai thác quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng cũng thừa nhận Việt Nam hoàn toàn đủ cơ sở pháp lý, căn cứ lịch sử và thực tế để chứng minh chủ quyền của mình đối với quần đảo.

Chúng ta khẳng định: quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc ta. Từ xa xưa, ông cha ta đã phát hiện, khai thác, làm chủ một cách hoà bình, thực sự, liên tục đối với quần đảo và đã được thế giới công nhận. Với ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước, quân và dân ta vượt qua nhiều khó khăn, thử thách giữ gìn, bảo vệ toàn vẹn từng tấc đất, từng mét san hô, từng sải biển trước âm mưu, hành động của kẻ thù. Nhà nước Việt Nam đã, đang và mãi mãi là chủ nhân của quần đảo Trường Sa.

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s